FANDOM


Huyện Từ Liêm là huyện được lập tên năm Vũ Đức thứ 4 (621) thời thuộc Nhà Đường, thuộc Từ Châu (sau đổi là Nam Từ Châu, gồm 3 huyện: Từ Liêm, Ô DiênVũ Lập). Theo Đường thư, Địa lý chí giải thích: đặt tên huyện Từ Liêm vì có sông Từ Liêm. Thực ra, 2 chữ Từ Liêm là cách phiên âm địa danh Chèm (tlem).

Thời Lý-Trần đặt lại huyện Từ Liêm thuộc phủ Đông Đô. Thời thuộc Minh đặt thuộc phủ Giao Châu. Nhà Lê đặt thuộc phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đặt thuộc phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội. Nay là huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội và phần phía nam huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây.

Xã Cổ Nhuế là tên xã có từ đầu đời Nguyễn trở về trước, gồm 2 thôn Tam và Hoàng (CTTX); đến đời Đồng Khánh, hai thôn này được nâng lên thành đơn vị tương đương với 4 xã khác trong tổng; còn chính xã Cổ Nhuế vì đã tách, không còn là một đơn vị cấp xã. ở dưới, các trường hợp tên xã ghi rời ra kèm tên thôn đều có ý tương tự (dùng như một định ngữ của tên thôn).

Xã Nhật Tảo: Từ đầu Nguyễn về trước là xã Nhật Cảo; từ năm Minh Mệnh 17 (1836) kiêng chữ Cảo (tên huý biệt danh vua Gia Long, xem NCCH), đổi là Nhật Tảo.

Xã Đường Ngạc: Từ đầu Nguyễn về trước là xã Hoa Ngạc; từ năm Thiệu Trị 1 (1841) kiêng chữ Hoa (tên huý Hoàng thái hậu Hồ Thị Hoa, mẹ vua Thiệu Trị), đổi là Đường Ngạc.

Tổng (xã, sở) Minh Tảo: Từ đầu Nguyễn về trước là tổng (và xã, sở) Minh Cảo từ năm Minh Mệnh 17 (1836) kiêng chữ Cảo, đổi là Minh Tảo Tổng (và xã) Đại Mỗ: Từ đầu Nguyễn về trước là tổng (và xã) Thiên Mỗ; năm Tự Đức 6 (1853) kiêng chữ Thiên là từ tôn kính, đổi là Đại Mỗ.

Ad blocker interference detected!


Wikia is a free-to-use site that makes money from advertising. We have a modified experience for viewers using ad blockers

Wikia is not accessible if you’ve made further modifications. Remove the custom ad blocker rule(s) and the page will load as expected.